Cùng một người, chỉ cần đổi bức ảnh, người xem có thể đánh giá họ đáng tin hay không đáng tin, dễ gần hay lạnh lùng một cách trái ngược. Nghiên cứu của Alexander Todorov và Jenny Porter năm 2014 cho thấy ấn tượng thay đổi đáng kể giữa các ảnh khác nhau của cùng một cá nhân, có lúc chênh lệch không kém gì giữa hai người khác hẳn nhau. Ánh sáng, góc máy, khoảng cách và khoảnh khắc bấm máy đều góp phần.
Phát hiện này quan trọng vì phần lớn ấn tượng ta có về người lạ ngày nay đến từ ảnh: ảnh đại diện mạng xã hội, ảnh hồ sơ xin việc, ảnh tài xế trên ứng dụng, ảnh trên báo. Bài này giải thích những yếu tố nào của bức ảnh làm lệch cảm nhận, và cách đọc ảnh người khác cho công bằng hơn.
Thí nghiệm: nhiều ảnh của cùng một người cho ấn tượng trái ngược
Todorov và Porter, trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Psychological Science năm 2014 với tiêu đề có thể dịch là "Ấn tượng đầu tiên gây hiểu lầm", chọn nhiều bức ảnh khác nhau của cùng một số người rồi cho người tham gia chấm các phẩm chất như đáng tin, có năng lực, ưa nhìn. Các bức ảnh đều là ảnh bình thường, không chỉnh sửa, chỉ khác nhau ở thời điểm chụp và điều kiện chụp.
Kết quả cho thấy cùng một người có thể nhận điểm rất cao ở bức này và rất thấp ở bức khác. Mức dao động giữa các bức ảnh của một người lớn đến mức nếu chỉ thấy một tấm, người xem có thể xếp người đó vào nhóm "đáng tin" hay "khó tin" tuỳ theo tình cờ. Nói cách khác, độ chênh giữa hai tấm ảnh của một người có thể lớn ngang độ chênh giữa hai người khác nhau. Nhóm tác giả còn thấy rằng người tham gia chọn những bức ảnh khác nhau của cùng một người tuỳ theo mục đích, chẳng hạn ảnh cho hồ sơ hẹn hò khác với ảnh cho hồ sơ xin việc, nghĩa là ta ngầm biết ảnh thay đổi ấn tượng.
Một nghiên cứu khác của Rob Jenkins và cộng sự ở Anh năm 2011 cho kết quả cùng hướng từ một góc khác. Khi người tham gia được đưa một xấp ảnh chỉ gồm hai người lạ và yêu cầu chia theo từng người, họ thường chia thành nhiều nhóm hơn hẳn hai, tức tưởng rằng có nhiều người khác nhau. Với người không quen, sự khác biệt giữa các bức ảnh của một người dễ bị nhầm thành sự khác biệt giữa người với người.
Ánh sáng: thứ ít ai để tâm nhưng tác động mạnh
Ánh sáng từ trên xuống. Đèn trần ở văn phòng, nắng giữa trưa tạo bóng đổ dưới lông mày, dưới mũi và cằm. Khuôn mặt trông mệt, mắt sâu và tối, dễ bị cảm nhận là căng thẳng hay khó gần.
Ánh sáng từ dưới lên. Chính là kiểu ánh sáng dùng để doạ trẻ con khi cầm đèn pin soi dưới cằm. Nó đảo ngược bóng quen thuộc của khuôn mặt và gần như luôn làm người được chụp trông đáng sợ hơn.
Ánh sáng mềm từ bên. Ánh sáng qua cửa sổ, hơi chếch một bên, tạo khối nhẹ và giữ mắt sáng. Đây là lý do thợ chụp ảnh chân dung ưa kiểu sáng này, và cũng là lý do ảnh chụp kiểu này thường được cảm nhận là dễ mến hơn.
Màu ánh sáng. Ánh đèn huỳnh quang xanh làm da trông nhợt; ánh vàng ấm làm da trông hồng hào hơn. Cảm nhận về sức khoẻ và sức sống thay đổi theo, dù người đó không hề khác.
Góc chụp, khoảng cách và ống kính
Chụp quá gần bằng điện thoại. Ống kính góc rộng của camera trước khi đặt cách mặt chừng một cánh tay làm phần giữa khuôn mặt, nhất là mũi, trông to hơn thực tế. Một nghiên cứu năm 2018 của các bác sĩ phẫu thuật tạo hình ở Mỹ đã mô tả hiện tượng này để giải thích vì sao nhiều người không hài lòng với mũi mình trên ảnh tự chụp.
Máy đặt thấp hay cao. Máy đặt thấp nhìn ngược lên thường làm người được chụp trông to lớn, có uy hơn; máy đặt cao nhìn xuống làm họ trông nhỏ bé hơn. Một số nghiên cứu cũng cho thấy độ cúi hay ngửa của đầu làm thay đổi cảm nhận về mức áp đảo.
Góc nghiêng của khuôn mặt. Chụp thẳng, chụp nghiêng ba phần tư hay nghiêng hẳn cho ba ấn tượng khác nhau về cùng một người. Ảnh thẻ chụp thẳng, ánh sáng phẳng, không cười thường là kiểu ảnh ít ai thấy mình đẹp nhất.
Khoảnh khắc bấm máy: tấm ảnh chụp giữa hai trạng thái
Một khuôn mặt chuyển động liên tục: chớp mắt, nói, nhíu mày suy nghĩ, mím môi trước khi cười. Máy ảnh chỉ bắt lấy một phần nhỏ của giây trong chuỗi đó. Nếu khoảnh khắc ấy rơi vào lúc người được chụp đang nheo mắt vì nắng, đang nói dở một chữ, hay đang chuẩn bị cười, tấm ảnh có thể trông như họ đang khó chịu hoặc lơ đễnh.
Khi xem một đoạn phim, mắt ta tự lọc những biểu cảm thoáng qua đó. Khi xem một tấm ảnh, ta không có ngữ cảnh để lọc, nên coi biểu cảm thoáng qua như trạng thái thường trực của người kia. Đây là một lý do khiến ấn tượng từ ảnh tĩnh kém ổn định hơn nhiều so với ấn tượng khi gặp mặt.
Báo chí và mạng xã hội khai thác điều này, đôi khi vô tình, đôi khi cố ý. Cùng một nhân vật, bài báo có thiện cảm sẽ chọn ảnh đang cười, bài báo phê phán chọn ảnh đang nhăn mặt. Người đọc tưởng mình đang tự đánh giá khuôn mặt, nhưng thật ra đang đánh giá lựa chọn của người biên tập ảnh.
Bộ lọc làm đẹp và ảnh đã chỉnh: khi bức ảnh không còn là ảnh chụp
Những yếu tố kể trên vẫn là chuyện của ảnh chụp thật. Ngày nay, phần lớn ảnh chân dung trên mạng đã đi qua một lớp xử lý trước khi đến mắt người xem: camera điện thoại tự làm mịn da, ứng dụng chụp ảnh có sẵn chế độ làm thon mặt, to mắt, và nhiều người chỉnh thêm trước khi đăng. Mỗi thao tác nhỏ đều đẩy khuôn mặt về một phía của các trục cảm nhận mà tâm lý học mô tả, thường là phía trẻ trung hơn, hiền hơn, ưa nhìn hơn.
Hệ quả thứ nhất là ấn tượng từ ảnh càng xa con người thật. Người xem tưởng mình đang đánh giá một khuôn mặt, nhưng thật ra đang đánh giá thiết lập mặc định của một ứng dụng. Hệ quả thứ hai tinh vi hơn: khi gần như ai cũng dùng bộ lọc, một tấm ảnh không chỉnh, chụp dưới đèn văn phòng, sẽ trông kém thiện cảm hơn hẳn so với mặt bằng chung, dù người trong ảnh không có gì khác. Ví dụ giả định: một ứng viên ở Hải Phòng gửi ảnh thẻ chụp vội ở tiệm, đặt cạnh mười tấm ảnh đã làm mịn da của các ứng viên khác, dễ bị thấy là "trông mệt mỏi" chỉ vì bức ảnh trung thực hơn.
Với người đọc quan tâm đến tướng học, điều này còn có một ý nghĩa nữa. Những lời luận giải dựa trên ảnh, dù do thầy tướng hay ứng dụng đưa ra, đang đọc một khuôn mặt đã bị chỉnh hình dạng mắt, mũi, cằm. Ngay cả nếu tin vào sách tướng, bạn cũng khó biết lời luận ấy đang nói về mình hay về thuật toán làm đẹp.
Yếu tố của bức ảnh và ấn tượng hay bị gán nhầm cho người trong ảnh
Bảng dưới gom các yếu tố thường gặp. Nó giúp bạn tự hỏi "mình đang phản ứng với người hay với bức ảnh" khi xem ảnh người lạ.
| Yếu tố của bức ảnh | Ấn tượng hay bị gán cho người trong ảnh | Thực chất |
|---|---|---|
| Đèn trần, nắng gắt giữa trưa | Mệt mỏi, khó gần, căng thẳng | Bóng đổ ở hốc mắt và dưới mũi |
| Ảnh tự chụp ở khoảng cách gần | Mũi to, mặt "khác thường" | Biến dạng phối cảnh của ống kính góc rộng |
| Máy đặt thấp nhìn lên | Có uy, áp đảo, đôi khi kiêu ngạo | Góc máy tạo cảm giác to lớn |
| Bắt đúng lúc nheo mắt, mím môi | Khó chịu, khó tính | Biểu cảm thoáng qua chưa đầy một giây |
| Ảnh thẻ ánh sáng phẳng, không cười | Lạnh lùng, nghiêm | Quy định của loại ảnh, không phải tính cách |
Không yếu tố nào trong cột đầu nói lên điều gì về con người trong ảnh. Nhưng tất cả đều đủ sức làm lệch ấn tượng của người xem, đặc biệt khi chỉ có một bức ảnh duy nhất.
Một cách tự kiểm đơn giản: lần tới khi thấy mình có cảm giác mạnh về ảnh của một người lạ, hãy thử tưởng tượng cùng người đó chụp dưới cửa sổ, máy ngang tầm mắt, đang cười với người thân. Nếu cảm giác của bạn đổi đi, thứ bạn vừa phản ứng là bức ảnh, không phải con người.
Đọc ảnh người khác cho công bằng, và chọn ảnh của mình cho tỉnh táo
Hiểu ảnh làm lệch ấn tượng giúp bạn ở cả hai vai: người xem ảnh và người đưa ảnh của mình lên.
- Khi chỉ có một ảnh, coi ấn tượng là tạm thời. Nếu ảnh ảnh hưởng đến quyết định như tuyển người, đặt dịch vụ, kết bạn, hãy tìm thông tin khác trước khi kết luận.
- Nếu có nhiều ảnh, xem nhiều ảnh. Ấn tượng trung bình từ nhiều ảnh ổn định hơn hẳn ấn tượng từ một tấm.
- Nhận ra góc máy và ánh sáng. Tự hỏi đèn chiếu từ đâu, máy đặt ở đâu, người đó đang làm gì lúc bấm máy.
- Với ảnh của mình, ưu tiên ánh sáng tự nhiên mềm và khoảng cách vừa phải. Nhờ người khác chụp từ xa hơn một chút, máy ngang tầm mắt, thay vì tự chụp sát mặt.
- Cân nhắc trước khi đưa ảnh mặt rõ nét lên mạng. Ảnh khuôn mặt là dữ liệu sinh trắc nhạy cảm; một khi đã phát tán, rất khó thu hồi. Phần rủi ro này được bàn kỹ hơn ở AI Định Danh.
Chọn ảnh đẹp cho hồ sơ của mình không phải là giả tạo. Đó chỉ là bớt đi nhiễu do ống kính và ánh sáng gây ra, để người xem có cơ hội nhìn bạn gần với thật hơn. Còn khi đánh giá ảnh của người khác, hãy cho họ cùng sự rộng lượng đó.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao ảnh của cùng một người lại cho ấn tượng khác nhau?
Vì ánh sáng, góc chụp, khoảng cách, ống kính và khoảnh khắc bấm máy đều thay đổi cách khuôn mặt hiện ra. Nghiên cứu của Todorov và Porter năm 2014 cho thấy ấn tượng về cùng một người dao động mạnh giữa các bức ảnh khác nhau.
Ảnh tự chụp có làm mặt trông khác thật không?
Có. Camera trước của điện thoại thường là ống kính góc rộng, khi đặt gần mặt sẽ làm phần giữa khuôn mặt như mũi trông to hơn thực tế. Nhờ người khác chụp từ xa hơn sẽ cho hình ảnh gần với thật hơn.
Nhà tuyển dụng có bị ảnh hồ sơ ảnh hưởng không?
Rất có thể, vì ấn tượng từ ảnh hình thành tự động. Nhiều nơi chọn cách đánh giá kinh nghiệm và câu trả lời trước, xem ảnh sau hoặc không yêu cầu ảnh, để giảm ảnh hưởng của yếu tố không liên quan đến công việc.
Làm sao đánh giá người qua ảnh cho công bằng hơn?
Coi ấn tượng từ một ảnh là tạm thời, xem nhiều ảnh nếu có, để ý ánh sáng và góc máy, và tìm thông tin về hành vi thật của người đó trước khi đưa ra quyết định có hệ quả.
Đăng ảnh khuôn mặt rõ nét lên mạng có rủi ro gì?
Ảnh khuôn mặt là dữ liệu sinh trắc nhạy cảm, có thể bị thu thập, ghép mặt hoặc dùng để giả mạo. Nên cân nhắc mức hiển thị, quyền xem và nơi đăng, nhất là với ảnh của trẻ em và người lớn tuổi trong nhà.